Tiến độ tiêm chủng tốt nhưng nhưng cần thêm liều tăng cường
Từ tháng 10/2021, Việt Nam đã đạt tỷ lệ tiêm chủng hàng ngày cao nhất ASEAN với hơn 8.000 liều/triệu dân/ngày. Đến nay, Việt Nam đã tiêm đủ 2 mũi vắc-xin cho hơn 63% dân số và chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ đạt tỷ lệ bao phủ vắc-xin 70% vào đầu tháng 1/2022.
Nhờ thành công của chương trình tiêm chủng, Chính phủ đã bắt đầu “chiến lược sống chung với COVID-19” từ ngày 11/10/2021. Sau khi các biện pháp giãn cách được nới lỏng, số ca nhiễm COVID-19 mới đã tăng lên mức cao kỷ lục trong những tuần gần đây mặc dù tỷ lệ tử vong vẫn được kiểm soát nhờ tỷ lệ tiêm chủng cao.
Tuy nhiên, Việt Nam hiện có tỷ lệ mắc và tử vong hàng ngày cao nhất trong khu vực ASEAN. Do đó, mũi vắc-xin tăng cường là rất quan trọng để tránh phải áp dụng các biện pháp phong tỏa trên diện rộng trở lại và tiếp tục áp dụng áp dụng cách tiếp cận “sống chung với COVID-19” đồng thời duy trì tốc độ phục hồi kinh tế.
Thâm hụt năm 2021 hiện là 1,54% GDP
Hoạt động thương mại chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trong Q2 và Q3/2021 do Việt Nam bắt đầu áp dụng các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt để kiểm soát làn sóng thứ 4 của biến thể Delta. Do đó, hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng đã liên tục bị gián đoạn.
Kết quả, Việt Nam ghi nhận quý thâm hụt vãng lai lớn nhất và lớn thứ hai trong lịch sử (được thống kê từ Q1/2012) trong Q2/2021 và Q3/2021, lần lượt 4,6 tỷ USD và 3,9 tỷ USD, tương đương với thâm hụt (trượt 4 quý) 1,58% GDP tính đến tháng 9/2021.
Về mặt tích cực, dựa theo số liệu thương mại gần đây, cán cân tài khoản vãng lai trong Q4/2021 có thể sẽ thặng dư trở lại khi mở cửa trở lại nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng lần lượt 27,8% và 17,4% so với cùng kỳ trong hai tuần đầu tiên tháng 12/2021.
Do đó, chúng tôi ước tính thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ là 1,54% GDP trong năm 2021, trước khi thặng dư trở lại là 0,72% GDP trong năm 2022 sau khi nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế theo kế hoạch bắt đầu từ tháng 1/2022.

Omicron: Thách thức đối với tăng trưởng kinh tế
Việt Nam đã tiêm đủ 2 mũi vắc-xin cho hơn 63% dân số. Nhờ đó, Chính phủ đã áp dụng cách tiếp cận “sống chung với COVID-19” từ tháng 10/11/2021. Sau khi các biện pháp phong tỏa được nới lỏng, mặc dù số ca nhiễm COVID-19 mới đã tăng lên mức cao kỷ lục trong những tuần gần đây, tỷ lệ tử vong vẫn trong tầm kiểm soát nhờ sự bảo vệ của vắc-xin. Tuy nhiên, Việt Nam hiện có tỷ lệ mắc và tử vong hàng ngày cao nhất trong khu vực – do đó, mũi tiêm tăng cường là cần thiết để tiếp tục áp dụng phương pháp tiếp cận “sống chung với COVID-19”. Chúng tôi dự báo thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ là 1,54% GDP trong năm 2021, trước khi thặng dư trở lại là 0,72% GDP trong năm 2022 sau khi nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế dự kiến sẽ bắt đầu từ tháng 1/2022.
Liều tăng cường là cần thiết để tránh phải áp dụng trở lại các biện pháp phong tỏa
Từ tháng 10/2021, Việt Nam đạt tỷ lệ tiêm chủng hàng ngày cao nhất trong khu vực ASEAN với hơn 8.000 liều/ một triệu dân/ngày (Bảng 2). Kết quả, Việt Nam đã tiêm đủ 2 mũi vắc-xin cho hơn 63% dân số mặc dù bắt đầu chiến dịch tiêm chủng muộn (từ tháng 8/2021) (Bảng 3). Với tốc độ này, chúng tôi tin rằng tỷ lệ tiêm chủng của Việt Nam sẽ đạt 70% vào đầu tháng 1/2022.


Trong khi số ca nhiễm COVID-19 mới đã tăng lên mức cao kỷ lục trong những tuần gần đây (Bảng 4), tỷ lệ tử vong vẫn nằm trong tầm kiểm soát (Bảng 5) nhờ tỷ lệ tiêm chủng cao.


Tuy nhiên, với tỷ lệ lây nhiễm hàng ngày tăng gấp 3 lần trong 1,5 tháng qua (Bảng 2), số ca nhiễm và tử vong hàng ngày của Việt Nam (Bảng 6 & 7) đang cao nhất trong khu vực ASEAN.


Trong tháng 12/2021, các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á tiếp tục nằm ở cuối bảng xếp hạng khả năng phục hồi sau dịch COVID-19 của Bloomberg (đánh giá sự hiệu quả khi ứng phó với dịch COVID-19 đối với tình hình kinh tế xã hội tại 53 nền kinh tế lớn nhất thế giới). Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia và Việt Nam là 5 quốc gia nằm ở cuối bảng (Bảng 8) (Mời xem: Tại sao Việt Nam chiếm vị trí của Philippines trở thành quốc gia ứng phó kém nhất đối với dịch COVID-19?, ngày 22/12/2021, Bloomberg).

Với làn sóng bùng phát mới nhất, từ tháng 12/2021, Việt Nam đã bắt đầu triển khai mũi tiêm tăng cường. Bộ Y tế đã giảm thời gian chờ mũi tiêm thứ 3 (mũi tăng cường) từ 6 tháng xuống còn 3 tháng. Chính phủ đặt mục tiêu tiêm mũi thứ 3 cho tất cả người lớn (trên 18 tuổi) vào giữa năm 2022 (Mời xem: Cho phép tiêm vaccine COVID-19 mũi 3 sau mũi hai 3 tháng, không phải 6 tháng, theo Bộ Y tế, ngày 18/12/2021, VnExpress).
Theo chúng tôi, do số ca nhiễm COVID-19 gia tăng, cùng với đe dọa từ biến thể Omicron mới, chiến lược “sống chung với COVID-19” của Chính phủ, được áp dụng từ ngày 11/10/2021, sẽ đối mặt với nhiều rủi ro mới. Hiện tại, một số hạn chế nhất định đã được áp dụng tại các quốc gia khác trong khu vực ASEAN (Bảng 8).
Trên thực tế, việc nới lỏng các hạn chế di chuyển đã hỗ trợ niềm tin của người tiêu dùng và hoạt động thương mại nội địa trong những tháng gần đây (Bảng 9). Tuy nhiên, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ của Việt Nam vẫn còn yếu và doanh số hàng tháng vẫn chưa đạt được mức trước dịch COVID-19 (Bảng 10).
Ngoài ra, số ca mắc COVID-19 mới tại một số thành phố lớn như Hà Nội rất cao đã khiến chính quyền địa phương phải thắt chặt các hạn chế đi lại một lần nữa. Điều này sẽ tác động đến hoạt động tiêu dùng trong thời gian tới.
Tại Hà Nội, quận Hai Bà Trưng, 5 phường của quận Hoàn Kiếm và 2 phường của quận Tây Hồ đã dừng các hoạt động không thiết yếu từ ngày 19/12/2021. Quyết định này được đưa ra chỉ vài giờ sau khi Hà Nội công bố những khu vực này có nguy cơ nhiễm COVID-19 cao. Trước đó, vào ngày 13/12/2021, quận Đống Đa, quận trung tâm TP.Hà Nội cũng dừng hoạt động ăn uống tại chỗ và tụ tập đông người (Mời xem: Thêm một quận ở trung tâm TP.Hà Nội dừng hoạt động ăn uống tại chỗ trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát, ngày 19/12/2021, VnExpress).


Thâm hụt tài khoản vãng lai được dự báo sẽ là 1,54% GDP trong năm 2021
Lần gần đây nhất Việt Nam thâm hụt tài khoản vãng lai là vào năm 2017 (-0,6% GDP) (Bảng 11). Kể từ đó, tài khoản vãng lai của Việt Nam đã được củng cố đáng kể nhờ hoạt động thương mại toàn cầu ngày càng gia tăng, do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước khác trong đó có Việt Nam trong thời kỳ đại dịch.
Tuy nhiên, hoạt động thương mại đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong Q2 và Q3/2021 khi Việt Nam áp dụng các biện pháp phong tỏa chặt chẽ để ngắn chặn làn sóng thứ 4 của biến thể Delta tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng.


Kết quả, Việt Nam đã thâm hụt hàng hóa và dịch vụ lần lượt 4,1 tỷ USD và 2,2 tỷ USD trong Q2/2021 và Q3/2021 (Bảng 11), tương đương thâm hụt tài khoản vãng lai theo quý lớn nhất và lớn thứ hai trong lịch sử (số liệu tính từ Q1/2012) lần lượt 4,6 tỷ USD và 3,9 tỷ USD trong Q2/2021 và Q3/2021. Theo đó, thâm hụt tài khoản vãng lai (trượt 4 quý) tính đến tháng 9/2021 là 1,58% GDP.
Trong khi đó, theo số liệu thương mại hiện tại, tài khoản vãng lai trong Q4/2021 có thể sẽ thặng dư trở lại sau khi nền kinh tế mở cửa trở lại. Kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng lên mức cao nhất lịch sử trong tháng 11/2021. Theo đó, Việt Nam ước tính xuất siêu 1,3 tỷ USD trong tháng 11/2021.

Sau khi phân tích số liệu thương mại trong 2 tuần đầu tháng 12 /2021, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu danh nghĩa của Việt Nam lần lượt tăng 27,8% và 17,4% so với cùng kỳ so với tăng lần lượt 28,6 % và 22,5% so với cùng kỳ trong 2 tuần cuối tháng 11/2021.
Trong nửa đầu tháng 12/2021, Việt Nam xuất siêu 250 triệu USD, đưa thặng dư thương mại kể từ đầu năm lên 1,7 tỷ USD. Kết quả này cho thấy hoạt động thương mại mạnh mẽ cùng với nhu cầu toàn cầu khả quan trước kỳ nghỉ lễ và các vấn đề về chuỗi cung ứng đang dần hạ nhiệt.
Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và giày dép, mặt hàng chịu tác ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các biện pháp hạn chế trong Q2 và Q3/2021, đã phục hồi mạnh mẽ (Bảng 13) với kim ngạch xuất khẩu sát mức kỷ lục.
Sau khi công bố KQKD Q2/2021 vào ngày 20/12/2021, Nike Inc. cho biết rằng các biện pháp phong tỏa tại Việt Nam, nơi sản xuất hơn 40% sản phẩm của Nike, đã được nới lỏng. Giám đốc tài chính của Nike cho biết, sau khi nhiều nhà máy phải đóng cửa từ tháng 7 đến tháng 9/2021, tất cả các nhà máy đã hoạt động trở lại và công nhân đã trở lại làm việc. Sản lượng giày dép và quần áo hàng tuần đạt mức 80% so với trước giai đoạn phong tỏa (Mời xem: Nike Không còn quá lo lắng về Giáng sinh và năm 2022, 21/12/2021, Bloomberg).
Do đó, chúng tôi dự báo tài khoản vãng lai sẽ thâm hụt khoảng 1,54% GDP trong năm 2021, trước khi thặng dư trở lại là 0,72% GDP trong năm 2022 sau khi nối lại các chuyến bay quốc tế bắt đầu từ tháng 1/2022, nhờ đó sẽ giúp cải thiện cán cân dịch vụ trong cán cân vãng lai.
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh yêu cầu các bộ liên quan từ ngày 22/12/2021 khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao để đảm bảo nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế theo kế hoạch vào ngày 1/1/2022 (Mời xem: Bảo đảm nối lại các chuyến bay quốc tế vào đầu năm mới: Phó Thủ tướng, ngày 23/12/2021, VnExpress).
Cập nhật số liệu kinh tế vĩ mô
Số liệu tháng 11/2021 nhìn chung cho thấy sự hồi phục của hoạt động kinh tế. Lạm phát tăng 2,1% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ tháng 9/2021 do chi phí giao thông tăng và nhu cầu tăng cao đối với các hoạt động xây dựng sau giai đoạn phong tỏa . Chỉ số PMI trong kỳ tăng lên 52,2, cho thấy hoạt động sản xuất hồi phục tháng thứ 2 liên tiếp. Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2021 tăng 26,3% so với cùng kỳ đạt mức cao nhất mọi thời đại là 31,9 tỷ USD, theo đó, thương mại thặng dư trong tháng thứ 3 liên tiếp. Kết quả này sát với dự báo thương mại sẽ thặng dư trong cả năm 2021 của chúng tôi. Cuối cùng, đầu tư công tăng 14,7% so với tháng trước (tuy nhiên vẫn giảm 12,9% so với cùng kỳ) và doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ tăng 6,2% so với tháng trước.
Lạm phát tăng 2,1% so với cùng kỳ do chi phí giao thông tăng
Tháng 11/2021, lạm phát tổng thể tăng 2,1% so với cùng kỳ so với tăng 1,77% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 14) chủ yếu do chi phí giao thông tăng mạnh tháng thứ 2 liên tiếp 20,71% so với cùng kỳ. Điều này là do biến động giá dầu thế giới khiến giá xăng dầu trong nước phải điều chỉnh 3 lần trong kỳ (2 lần điều chỉnh tăng vào ngày 26/10 và 10/11/2021 và một lần điều chỉnh giảm vào ngày 25/11/2021). Cuối tháng 11/2021, giá xăng dầu trong nước tăng 55,7% so với cùng kỳ nhưng giảm nhẹ từ mức cao nhất trong 7 năm (Bảng 16).
Ngoài ra, chi phí nhà ở & vật liệu xây dựng cũng là động lực tăng khác của lạm phát tổng thể do giá điện tăng (1,47% so với cùng kỳ) sau khi kết thúc giai đoạn hỗ trợ giá điện của Chính phủ và giá vật liệu xây dựng tăng 0,94% so với tháng trước do nhu cầu tăng cao sau giai đoạn phong tỏa.
Mặt khác, chi phí lương thực & thực phẩm tiếp tục giảm 0,08% so với cùng kỳ. Trong đó, chi phí lương thực giảm 1,71% so với cùng kỳ nhờ giá thịt lợn giảm 5,62% so với tháng trước do người chăn nuôi nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho tích lũy để giảm thiểu thiệt hại do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao.


Trong khi đó, lạm phát tổng thể và lạm cơ bản bình quân 11 tháng lần lượt tăng 1,84% và 0,82% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 (Bảng 5) và thấp hơn đáng kể so với mục tiêu của Chính phủ là 4,0%.
Xu hướng lạm phát sát với dự báo cả năm 2021 của chúng tôi là tăng bình quân 2,3%. Theo đó, HSC duy trì dự báo lạm phát bình quân sẽ duy trì dưới 4,0% trong năm 2022 và 2023 (lần lượt là 3,5% và 3,0%) (Mời xem: Hạ dự báo GDP năm 2021 và 2022, HSC, ngày 30/8/2021).
Do lạm phát được kiểm soát, HSC kỳ vọng NHNN sẽ duy trì chính sách tiền tệ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong nửa đầu năm 2022.



Giá trị sản xuất công nghiệp hồi phục 6,9% so với tháng trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ
Giá trị sản xuất công nghiệp hồi phục 5,6% so với cùng kỳ so với giảm 1,6% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021. Chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng 6,4% so với cùng kỳ sau khi giảm 1,6% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 18). Ngoài ra, ngành khai khoáng hồi phục 2,2% so với cùng kỳ lần đầu kể từ tháng 4/2021 nhờ sản xuất than đá và quặng kim loại màu gia tăng.
So với tháng trước, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng lần lượt 5,5% và 5,9% trong tháng 11/2021.
Tương tự số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam tăng lên 52,2 trong tháng 11/2021 từ 52,1 trong tháng 10/2021, đánh dấu tháng hồi phục thứ 2 liên tiếp của hoạt động sản xuất sau 4 tháng liên tiếp sụt giảm do các biện pháp giãn cách và phong tỏa (Bảng 18).
Cả đơn đặt hàng mới và đơn đặt hàng xuất khẩu mới đều tăng trong tháng thứ 2 liên tiếp nhờ tiếp tục nới lỏng các hạn chế trong những tháng gần đây. Trong khi đó, áp lực lạm phát tiếp tục gia tăng, với cả chi phí đầu vào và giá đầu ra đều tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2011.
Ngoài ra, một số người trả lời cuộc khảo sát tháng này cho thấy người lao động vẫn lo ngại về tình hình đại dịch và do đó còn lưỡng lự quay trở lại làm việc. Điều này khiến các nhà sản xuất khó mở rộng nhân sự nhằm đáp ứng với khối lượng công việc lớn hơn. Lo ngại về đại dịch cũng ảnh hưởng đến niềm tin của nhà sản xuất, với niềm tin giảm so với tháng 10/2021. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới với kỳ vọng tình hình sẽ cải thiện.

Cơ cấu theo lĩnh vực chính, linh kiện điện tử (tăng 11,6% so với cùng kỳ) và thiết bị truyền thông (tăng 9,9% so với cùng kỳ) đã tăng tháng thứ 3 liên tiếp. Trong khi đó, tốc độ giảm tiếp tục chậm lại đối với điện tử tiêu dùng (giảm 12,2% so với cùng kỳ) và dệt may (giảm 10,21% so với cùng kỳ). Về mặt tích cực, giày dép đã tăng trở lại 7,3% so với cùng kỳ trong tháng thứ 2 liên tiếp (Bảng 19).
Giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến & chế tạo tăng lần lượt 3,6% và 4,8% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2021, và vượt mức tăng cùng kỳ năm ngoái (tăng lần lượt 3,1% và 4,7% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020).
Kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh nhất lịch sử trong tháng 11/2021
Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2021 tăng 26,3% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 18,5% so với cùng kỳ) lên mức cao kỷ lục là 31,9 tỷ USD, so với tăng 6,1% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 20). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chính tăng như điện thoại các loại tăng 21,5% so với cùng kỳ, máy tính và sản phẩm điện tử tăng 20,6% so với cùng kỳ, máy móc tăng 44,0% so với cùng kỳ, dệt may tăng 35,8% so với cùng kỳ, giày dép tăng 3,9% so với cùng kỳ, gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 2,5% so với cùng kỳ, sắt thép tăng 112,5% so với cùng kỳ, thủy sản tăng 23,0% so với cùng kỳ, sợi tăng 38,9% so với cùng kỳ, sản phẩm nhựa tăng 35,1% so với cùng kỳ, hạt điều tăng 16,2% so với cùng kỳ, cao su tăng 7,9% so với cùng kỳ, gạo tăng 56,9% so với cùng kỳ, cà phê tăng 49,9% so với cùng kỳ và dầu thô tăng 86,8% so với cùng kỳ.
Mặc dù vậy, làn sóng COVID-19 mới đây đã gây áp lực lên triển vọng ngắn hạn của các doanh nghiệp. Trả lời phỏng vấn với Bloomberg, bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Túi xách Da giày Việt Nam cho biết, các nhà máy, với 90%-95% lực lượng lao động đã quay trở lại, hiện lo ngại yêu cầu cách ly bắt buộc 3 tuần đối với những công nhân đã tiêm vắc-xin xét nghiệm dương tính sẽ ảnh hưởng tới các đơn đặt hàng vào đầu năm 2022 (Mời xem: Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 11/2021 tăng mạnh sau khi kết thúc giai đoạn phong tỏa, ngày 29/11/2021, Bloomberg).


Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 24,1% so với cùng kỳ (điều chỉnh từ tăng 20,8% so với cùng kỳ) và cũng đạt mức cao kỷ lục là 30,6 tỷ USD trong tháng 11/2021, so với tăng 7,8% so với cùng kỳ trong tháng 10/2021 (Bảng 21) và là tháng tăng thứ 16 liên tiếp của kim ngạch nhập khẩu trong bối cảnh nhu cầu trong nước ổn định.
Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh đối với các sản phẩm máy tính và điện tử (tăng 23,8% so với cùng kỳ), máy móc (tăng 16,8% so với cùng kỳ), điện thoại các loại (tăng 18,0% so với cùng kỳ), vải (tăng 20,1% so với cùng kỳ), nhựa (tăng 26,0% so với cùng kỳ) và nguyên phụ liệu dệt may và da giày (tăng 17,2% so với cùng kỳ). Kim ngạch nhập khẩu sắt & thép tăng chậm lại (tăng 30,3% so với cùng kỳ).
So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng lần lượt 10,4% và 17,1%.
Trong 11 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu (301,7 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu (300,3 tỷ USD) tăng lần lượt 18,3% và 27,9% so với cùng kỳ, so với tăng lần lượt 5,5% và 1,6% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020.
Trong 11 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính bao gồm Mỹ (84,8 tỷ USD), Trung Quốc (50,5 tỷ USD) và châu Âu (35,7 tỷ USD) tăng lần lượt 22,2%, 16,8% và 11,9% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu cải thiện sau khi tiếp tục triển khai vắc-xin tại những các quốc gia này.
Trong tháng 11/2021, Việt Nam thặng dư ước tính đạt 1,3 tỷ USD, tương đương với thặng dư thương mại trong 11 tháng đầu năm 2021 đạt 1,5 tỷ USD so với thặng dư thương mại 20,2 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2020.
Cán cân thương mại đảo chiều từ thâm hụt sang thặng dư trong 3 tháng liên tiếp, sát với dự báo thặng dư thương mại trong cả năm 2021 của chúng tôi là 4,3 tỷ USD so với thặng dư 19,9 tỷ USD trong năm 2020, do đó chúng tôi duy trì dự báo (Mời xem: Hoạt động thương mại vẫn là điểm sáng khi dịch COVID-19 bùng phát, HSC, ngày 15/11/2021).
Vốn FDI giải ngân giảm 4,2% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2021
Trong 11 tháng đầu năm 2021, vốn FDI giải ngân giảm 4,2% so với cùng kỳ xuống 17,1 tỷ USD sau khi tăng 1,3% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020 (Bảng 22). Về mặt tích cực, vốn FDI đăng ký (26,5 tỷ USD) chỉ tăng 0,1% so với cùng kỳ so với giảm 16,9% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020.
Về vốn FDI giải ngân, ngành công nghiệp chế biến & chế tạo (12,44 tỷ USD) đóng góp 72,8%, hoạt động kinh doanh BĐS (2,27 tỷ USD) đóng góp 13,3% và lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt (1,31 tỷ USD) đóng góp 7,7%.
Vốn FDI đăng ký mới (14,06 tỷ USD) tăng 3,7% so với cùng kỳ so với giảm 7,6% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020 và tập trung vào các dự án năng lượng, bao gồm các nhà máy nhiệt điện LNG do Singapore phát triển 3,1 tỷ USD (Long An 1 và 2) tại tỉnh Long An, Nhà máy nhiệt điện 1,3 tỷ USD do Nhật Bản phát triển (Ô Môn 2) tại thành phố Cần Thơ và nhà máy pin mặt trời 498 triệu USD do Hồng Kông phát triển ở tỉnh Quảng Ninh.


Trong khi đó, vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu (8,02 tỷ USD) cũng tăng 26,7% so với cùng kỳ so với tăng 7,8% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020. Một trong những dự án quan trọng là đầu tư bổ sung 1,5 tỷ USD vào nhà máy LG Display Hải Phòng vào ngày 31/8/2021 (tổng vốn đầu tư vào dự án này hiện là 4,65 tỷ USD).
Mặc dù vậy, các biện pháp hạn chế đi lại kéo dài tiếp tục cản trở các NĐT đưa ra quyết định đầu tư. Góp vốn mua cổ phần (4,38 tỷ USD) giảm 33,0% so với cùng kỳ so với giảm 41,8% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020.
Đồng thời, do các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển tại các tỉnh thành lớn dần được nới lỏng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công sẽ được đẩy nhanh trong phần còn lại của năm.
Trong tháng 11/2021, đầu tư công đạt 48,5 nghìn tỷ đồng (tăng 14,7% so với tháng trước nhưng giảm 12,9% so với cùng kỳ) (Bảng 23). Trong 11 tháng đầu năm 2021, đầu tư (367,7 nghìn tỷ đồng) tương đương 73,8% kế hoạch năm 2021 của Chính phủ (477,3 nghìn tỷ đồng) và giảm 8,7% so với cùng kỳ và thấp hơn so với mức tăng trong 11 tháng đầu năm 2020 (tăng 32,7% so với cùng kỳ).
Tính đến ngày 15/11/2021, thặng dư ngân sách nhà nước là 100,6 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu thâm hụt 343,7 nghìn tỷ đồng theo kế hoạch năm 2021 (“Quyết định 1927” của Bộ Tài chính). Trong đó, thu ngân sách cao hơn (1.312,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 97,7% kế hoạch năm 2021) so với chi ngân sách (1.212,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 71,9% kế hoạch năm 2021).
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm chậm lại 12,2% so với cùng kỳ trong tháng 11/2021
Trong tháng 11/2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ hàng tháng (397,1 nghìn tỷ đồng) giảm chậm lại 12,2% so với cùng kỳ và tăng 6,2% so với tháng trước. Trong 11 tháng đầu năm 2021, doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (4.128,5 nghìn tỷ đồng) giảm 8,7% so với cùng kỳ so với tăng 2,0% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020.
Doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ giảm so với cùng kỳ do doanh số bán lẻ hàng hóa (336,1 nghìn tỷ đồng, giảm 5,9% so với cùng kỳ), doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (30,2 nghìn tỷ đồng, giảm 33,4% so với cùng kỳ) và dịch vụ du lịch (0,5 nghìn tỷ đồng, giảm 55,9% so với cùng kỳ) (Bảng 24).
So với tháng trước, hoạt động di chuyển trong nước tiếp tục cải thiện và điều này được thể hiện qua số lượng hành khách vận chuyển trong nước tăng 24,1% so với tháng trước (Bảng 26). Điều này giúp doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống và dịch vụ du lịch tăng lần lượt 12,7% và 15% so với tháng trước trong tháng 11/2021.
Do hầu như không thực hiện các chuyến bay thương mại kể từ tháng 4/2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 15,2% so với cùng kỳ xuống còn 15 nghìn lượt (Bảng 25); những lượt khách này chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài và lao động tay nghề cao đến từ Trung Quốc (4,5 nghìn lượt), Hàn Quốc (3,0 nghìn lượt), Nhật Bản (1,3 nghìn lượt), Mỹ (301 lượt) và châu Âu (2,1 nghìn lượt). Trong 11 tháng đầu năm 2021, tổng lượng khách du lịch đạt 140 nghìn lượt, giảm 96,3% so với cùng kỳ (so với giảm 76,6% so với cùng kỳ trong 11 tháng đầu năm 2020).



Về mặt tích cực, kể từ tháng 11/2021, Việt Nam sẽ chào đón khách du lịch quốc tế trong nỗ lực tái mở cửa dần lĩnh vực dịch vụ trong giai đoạn đại dịch.
Khánh Hòa, Quảng Nam và Phú Quốc bắt đầu nhận các chuyến bay với các du khách quốc tế tới từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ từ tháng 11/2021.
Theo một bài đăng trên trang web của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, du khách quốc tế sẽ phải đối mặt với những yêu cầu chặt chẽ bao gồm tiêm chủng đầy đủ ít nhất 14 ngày trước khi khởi hành hoặc đã hồi phục sau khi mắc COVID-19 không quá 6 tháng trước khi khởi hành. Du khách phải được xét nghiệm âm tính COVID-19 trong vòng 72 tiếng trước khi khởi hành và phải tổ chức theo tour và bị hạn chế sử dụng dịch vụ và tham quan một số khu vực.
Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã đề xuất kế hoạch 3 giai đoạn để nối lại các chuyến bay quốc tế thường xuyên vào năm tới, theo website Chính phủ. Giai đoạn đầu tiên sẽ bắt đầu vào Q1/2022 với các chuyến bay đến từ Pháp, Đức, Nga, Anh, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Lào và Campuchia. (Mời xem: Vietnam bắt đầu mở cửa lại một cách hạn chế cho khách du lịch nước ngoài, 15/11/2021, Bloomberg).
Trong vòng chưa đầy 3 tuần du lịch quốc tế mở cửa trở lại theo chương trình hộ chiếu vắc-xin, Việt Nam đã đón 978 du khách nước ngoài tới Quảng Nam, Khánh Hòa và Kiên Giang (Mời xem: Việt Nam sẽ đón đoàn khách du lịch Thái Lan đầu tiên trở lại theo chương trình hộ chiếu vaccine trong tháng 12/2021, ngày 1/12/2021, VnExpress).
Tiến độ này sát với quan điểm của chúng tôi rằng chìa khóa cho sự hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc dỡ bỏ rộng rãi các hạn chế di chuyển. Theo quan điểm của chúng tôi, tiến trình này sẽ sảy ra từ từ, bắt đầu từ Q1/2022.
Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC

Lịch sự kiện kinh tế quan trọng

Các cổ phiếu HSC khuyến nghị

Nguồn: https://chungkhoanonline.vn/




















