DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0931 114 089 / 090 411 6979

Hướng dẫn phân tích kỹ thuật trong đầu tư Chứng khoán

Lượt xem: 1718 - Ngày:
Chia sẻ

Thị trường chứng khoán luôn có biến động bất thường đã khiến nhiều người thua lỗ nặng. Vì vậy, nhà đầu tư cần phải trang bị cho mình những chiến lược đầu tư mới và tiên tiến hơn. Phân tích kỹ thuật là công cụ không thể thiếu đối với nhà đầu tư chứng khoán. Trong bài biết này, Duy Nghĩa sẽ hướng dẫn nhà đầu tư sử dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán.

1.Khái niệm phân tích kỹ thuật.

Phân tích kỹ thuật (Technical Analysis hay còn gọi là TA) là một thuật ngữ chuyên môn trong chứng khoán chỉ việc nghiên cứu giá cả trong quá khứ thông qua các đồ thị, để dự đoán được giá cổ phiếu trong tương lai. Bên cạnh đó phân tích kỹ thuật còn được sử dụng để dự báo giá cả của hàng hóa, thậm chí là cả các chỉ số của thị trường (market indexes).

2. Nền tảng của phân tích kỹ thuật.

Nền tảng của phân tích kỹ thuật cho rằng tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến giá thị trường như: các thông tin vĩ mô, sự kiện chính trị, thiên tai, chính sách, các yếu tố tâm lý… sẽ được phản ánh vào các hành động của thị trường. Nói một cách khác, tác động của các yếu tố này sẽ nhanh chóng biểu diễn dưới dạng biến động giá, hoặc lên hoặc xuống.

  • Phân tích kỹ thuật quan tâm tới những gì đã xảy ra trên thị trường hơn là những gì nên xảy ra. Đó là cơ sở chính yếu để dự đoán tương lai.
  • Thị trường tồn tại những mẫu, dạng đồ thị và có tính lặp lại.
  • Phân tích kỹ thuật đơn giản là một phương pháp dự báo thị trường dựa vào nghiên cứu quá khứ, tâm lý, quy luật xác suất.

Phân tích kỹ thuật tất nhiên không phải là không thể mắc sai sót nhưng nó là một kỹ thuật kinh doanh đáng để ta nghiên cứu. Để phân tích kỹ thuật có thể là một công cụ có khả năng sinh lời, nó phải được sử dụng theo những nguyên tắc đã được tính toán, chứ không phải theo cảm tính.

3. Vai trò phân tích kỹ thuật.

Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và dự đoán.

  • Công cụ báo động: Phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn gồm hỗ trợ và kháng cự (chúng ta sẽ tìm hiểu về hai khái niệm này trong các bài viết khác) và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ. Đối với nhà đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm sẽ giúp cho họ sớm có hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời.
  • Công cụ xác nhận: Mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá. Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn.
  • Công cụ dự đoán: Nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng dự đoán tốt hơn. Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp. Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ. Tuy nhiên nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc a dua theo đám đông sẽ được hạn chế rất nhiều.

4. Tính chất của phân tích kỹ thuật.

Nhà đầu tư khi sử dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán nên lưu ý một số tính chất sau:

  • Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khi phép phân tích chỉ ra được trạng thái đó. Trong cùng 1 phương pháp phân tích, số phiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn. Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu.
  • Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thị trường. Tính chất này ngược lại với độ trễ.
  • Độ chính xác: Tính ít sai sót trong phản ánh các biến động của thị trường. Tuy nhiên độ chính xác và độ nhạy lại đối nghịch với nhau.
  • Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phân tích. Ví dụ về trung bình động với số phiên lấy dữ liệu là 5 phiên. Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng chọn số phiên tính toán càng nhỏ bấy nhiêu.

5. Những điều căn bản về Phân tích kỹ thuật.

  • Giá trị thị trường của một chứng khoán được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa cung và cầu.
  • Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần  thiết khác để tạo thành sự cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những điều này  mà thị trường sẽ tự thực hiện.
  • Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài. Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường biến động.

6. Ba giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:

Biến động thị trường phản ánh tất cả

Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó, có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.

Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung/cầu. Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầu phải vượt cung và thị trường tăng giá. Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằng động lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hình thành nên thị trường giá lên hay thị trường giá xuống, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trường dịch chuyển lên hay xuống. Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà thôi.

Giá vận động theo xu thế

Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó. Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này. Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp.

Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau: “một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”. Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đi theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều.

Lịch sử sẽ tự lặp lại

Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người. Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá. Những bức tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá. Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi. Như  thế giả định này có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”

7. Cuộc tranh cãi giữa PTCB và PTKT:

Các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng thị trường được quyết định 80% là do tâm lý và 20% là do suy luận logic hợp lý. Các nhà phân tích cơ bản cho rằng điều ngược lại mới đúng. Tâm lý hoặc logic có thể mở ra cuộc tranh luận bất tận, nhưng không có nghi ngờ về giá cả hiện tại. Sau tất cả, giá là thứ mà tất cả chúng ta đều quan tâm và không ai nghi ngờ tính hợp lý của nó. Giá được xác định bởi tổng hòa hành vi của tất cả người tham gia. Những người tham gia đã xem xét tất cả mọi thứ dưới phân tích của họ để mua hoặc bán. Đây là những lực lượng cung và cầu trong thị trường. Bằng cách theo dõi diễn biến giá để xác định lực cung hay cầu chiếm ưu thế, phân tích kỹ thuật tập trung trực tiếp vào điểm mấu chốt: Giá là gì? Nó đã ở đâu? Nó đang đi đâu?

Mặc dù có một số nguyên tắc phổ quát và các quy tắc có thể được áp dụng, cần nhớ rằng phân tích kỹ thuật là một nghệ thuật hơn là khoa học. Là một nghệ thuật nó được giải thích. Tuy nhiên, cũng cần linh hoạt trong cách tiếp cận và mỗi nhà đầu tư chỉ nên sử dụng những gì phù hợp với phong cách của mình. Phát triển một phong cách cần có thời gian, công sức và sự đam mê nhưng phần thưởng có thể là đáng kể.

Phân tích kỹ thuật bao gồm trường phái gì?

Có rất nhiều trường phái và phương pháp phân tích kỹ thuật khác nhau, nhưng sau đây là những trường phái, phương pháp thông dụng nhất :

  1. Trường phái, phương pháp Phân tích đồ thị nến Nhật(Candlestick Charting).
  2. Trường phái, phương pháp Nguyên lý sóng Elliott (Elliott Wave Theory).
  3. Trường phái, phương pháp ứng dụng mẫu mô hình đồ thị (đảo chiều và tiếp tục xu hướng) (Chart Patterns).
  4. Trường phái, phương pháp Lý thuyết chu kỳ (Cycle Theory).
  5. Trường phái, phương pháp Lý thuyết Dow (Dow Theory).
  6. Trường phái, phương pháp Lý thuyết Hiện tượng Delta (Delta Phenomenon).
  7. Phương pháp ứng dụng các đường xu hướng (Trendline Charting)
  8. Phương pháp ứng dụng Dãy số Fibonacci (Fibonacci Series).
  9. Phương pháp ứng dụng các hệ thống chỉ báo kỹ thuật (Technical Indicators)
  10. 10. Phương pháp ứng dụng điểm Pivot(Pivot Point).

Trong bài viết sau, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về một trường phái PTKT được sử dụng phổ biến bậc nhất trong PTKT hiện đại, đó là trường phái sử dụng Đồ thị nến Nhật. Cụ thể hơn chúng ta sẽ nghiên cứu về đồ thị nến – linh hồn của phương pháp phân tích này.

Duy Nghĩa - Chứng Khoán Online
Phạm Duy Nghĩa

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

090 411 6979 Mở tài khoản CK