DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0931 114 089 / 090 411 6979

Hướng dẫn phân tích kỹ thuật: Các đường trung bình động và xu thế

Lượt xem: 2415 - Ngày:
Chia sẻ

Trong phân tích kỹ thuật, trung bình động đã được ứng dụng rất rộng rãi và phổ thông bởi hầu hết các nhà đầu tư từ chuyên đến không chuyên. Là sản phẩm được bắt nguồn từ giá chứng khoán, từ lâu trung bình động được coi như là kim chỉ nam cho việc xác định xu thế dịch chuyển của giá hiện tại.

1. Đường trung bình động là gì?

Đường trung bình là một trong những công cụ phổ biến và dễ sử dụng nhất để phân tích kỹ thuật được áp dụng trong phân tích chứng khoán và là nền tảng để xây dựng các công cụ phân tích khác.

Trung bình động tại một thời điểm là giá trị trung bình của giá trong một giai đoạn tính từ một mốc thời gian trong quá khứ đến thời điểm đó. Khi giá thay đổi đường trung bình động cũng lập tức thay đổi theo.

Trung bình động được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau. Khuôn khổ bài viết này chỉ giới thiệu hai phương pháp tính trung bình động được sử dụng phổ biến.

2. Các loại đường trung bình.

1.1 Trung bình đơn SMA (Simple Moving Average)

Trung bình đơn (SMA) tại một phiên là lấy giá trị trung bình của phiên đó và các phiên trước. Giá trị của trung bình đơn tại phiên t là:

SMAt = (Pt + Pt – 1 + Pt – 2 + … + Pt – n + 1) / n

Trong đó:

  • SMAt là giá trị trung bình động tại phiên t.
  • Ptlà giá của Cổ phiếu tại phiên t.
  • n là số phiên tính trung bình động

1.2. Trung bình hàm mũ EMA (Exponential Moving Average)

Giá trị của trung bình hàm mũ tại phiên t là:

EMAt = ((Pt – EMAt – 1) * M) + EMAt – 1

Trong đó:

  • EMAlà giá trị trung bình động hàm mũ tại phiên t
  • Gọi Plà giá Cổ phiếu tại phiên t
  • n là số phiên tính trung bình động

(Với hệ số M thường được lấy với giá trị = 2 / (1 + n))

3. Trung bình động là kim chỉ nam xác định xu thế đi lên hay đi xuống của giá.

Dễ dàng nhận thấy khi các đường trung bình động bộ số nhỏ nằm trên đường trung bình bộ số lớn hơn (MA10 > MA 20 >MA50) khi đó giá có xu hướng đi lên, ngược lại khi (MA10 < MA 20 < MA50) giá báo hiệu hết giai đoạn tăng, có thể đảo chiều đi xuống hoặc sideway trong giai đoạn sau đó. Qua đó cũng giúp ta xác định được tín hiệu MUA hay BÁN.

Đường trung bình động có xu hướng lọc từ các dữ liệu lộn xộn đủ loại của thị trường bằng cách làm cho nó uyển chuyển, mượt mà các vùng lồi lõm lớn của giá và các đỉnh của sự biến động giá bất thường. Đường trung bình động giúp dễ dàng nhận ra những xu hướng cơ bản trên biểu đồ. Mặt khác, chính các đường trung bình động đóng vai trò quan trọng, đo lường chính xác cao giúp xác định rõ mức hỗ trợ và kháng cự tại mỗi thời điểm.

4. Tính chất của đường trung bình.

Tất cả các đường trung bình là các công cụ báo biểu trễ (lagging indicator) và luôn luôn theo sau giá thật, dựa vào thông tin trong quá khứ mà không tính toán đến các giá trị tương lai.Như vậy trung bình động không dự đoán trước tương lai mà chỉ là công cụ xác định xu thế hiện tại của thị trường. Số kỳ sử dụng càng lớn thì độ trễ càng cao và ngược lại. Bởi vì các đường trung bình là những công cụ báo biểu trễ nên chúng được xếp vào loại công cụ chỉ báo theo sau xu hướng. Khi giá theo xu hướng thì đường trung bình hoạt động tốt, nhưng không phải lúc nào giá cũng theo xu hướng do đó đường trung bình có thể đưa ra tín hiệu sai lệch.

Ngược lại với độ trễ là độ nhạy, độ trễ càng nhỏ thì độ nhạy càng cao, thể hiện càng rõ nét, sát với diễn biến của giá. Nhà đầu tư (NĐT) có thể nhanh chóng nhận biết biến động của thị trường để kịp thời nắm bắt cơ hội nhưng có thể phải trả giá cho các dấu hiệu sai lầm do khả năng sai là rất lớn. Nếu sử dụng độ trễ lớn, NĐT có thể hạn chế khả năng sai xót nhưng lại chậm nắm bắt cơ hội đầu tư.

Trung bình động không phải là công cụ giúp “bắt đỉnh” hay “bắt đáy”!

Phương pháp sử dụng phổ biến nhất của trung bình động là so sánh mối quan hệ giữa trung bình động giá chứng khoán với giá của chính chứng khoán đó. Tín hiệu mua xuất hiện khi giá chứng khoán vượt lên trên trung bình động và tín hiệu bán xuất hiện khi giá chứng khoán giảm xuống dưới trung bình động.

Hệ thống giao dịch dựa vào trung bình động này không giúp chúng ta mua đúng tại đáy hoặc bán đúng tại đỉnh. Thay vào đó, hệ thống này giúp chúng ta nắm bắt đúng xu hướng của giá bằng cách cho tín hiệu mua ngay sau khi giá tạo đáy và cho tín hiệu bán ngay sau khi giá đạt đỉnh.

5. Cách sử dụng đường trung bình động

Yếu tố then chốt trong trung bình động là số kỳ sử dụng để tính toán. Chìa khóa thành công là tìm được một trung bình động luôn hoạt động hiệu quả. Trung bình động phổ biến nhất 200 ngày. Trung bình động này phát huy hiệu quả cao trong việc xác định chu kỳ lớn của thị trường (dài hạn).

Độ dài thời gian của trung bình động phải phù hợp với chu kỳ thị trường chúng ta muốn phân tích. Ví dụ, nếu chúng ta xác định được rằng chứng khoán có chu kỳ tính từ đỉnh này đến đỉnh kia là 40 kỳ thì độ dài lý tưởng để tính trung bình động sẽ là 21 kỳ (Số phiên tính trung bình động = Số phiên trong 1 chu kỳ lướt sóng / 2 + 1)

Rất ngắn hạn : 5 -10 ngày
Ngắn hạn : 11 – 25 ngày
Trung hạn : 25 – 100 ngày
Dài hạn : 100 – 200 ngày

Thông thường các nhà đầu tư sử dụng ba đường trung bình động thể hiện đường ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Ba đường trung bình động này sẽ bổ trợ lẫn nhau trong phân tích của NĐT và làm giảm các yếu điểm về tính nhạy và tính chính xác của cả hai do độ trễ của cả hai mang lại.

Khi một cổ phiếu đã thể hiện xu hướng, công việc kế tiếp là chọn lựa một số khoảng thời gian cho đường trung bình và kiểu đường trung bình. Một số khoảng thời gian được sử dụng cho đường trung bình sẽ thay đổi tùy thuộc vào tính chất biến động của cổ phiếu, khuynh hướng và sở thích của cá nhân. Đối với cổ phiếu biến động nhiều thì cần làm phẳng nhiều hơn do đó dùng đường trung bình dài hơn. Không có bộ thời gian chuẩn, nhưng một vài bộ thời gian đươc NĐT sử dụng phổ biến như: 21, 50, 89 và 200 ngày; 10, 30 và 40 tuần. Các NĐT ngắn hạn thường tìm tín hiệu xu hướng 2-3 tuần bằng đường trung bình 21 ngày. Kiểm tra xem đường trung bình so với giá như thế nào. Nếu giá và đường trung bình cắt nhau quá nhiều thì cần tăng khoảng thời gian của đường trung bình. Nếu đường trung bình phản ánh giá chậm thì cần giảm khoảng thời gian của đường trung bình. Thêm vào đó, bạn có thể muốn thử sử dụng cả 02 đường trung bình SMA và EMA. Đường EMA thường sử dụng tốt nhất cho ngắn hạn vì cần sự đáp ứng nhanh của đường trung bình. Đường SMA làm việc tốt hơn cho dài hạn.

Đường nào tốt hơn?

Đường trung bình mà NĐT sử dụng sẽ tùy thuộc vào sở thích và cách giao dịch của NĐT. Đường SMA hiển nhiên có một độ trễ, đường EMA có thể bắt được đảo chiều nhanh hơn. Một số NĐT thích sử dụng đường EMA đối với khoảng thời gian ngắn để nắm bắt được các thay đổi nhanh hơn. Nhưng một số NĐT khác lại thích sử dụng đường SMA trên khoản thời gian dài để xác định thay đổi xu hướng dài hạn. Một số người nghĩa rằng các tín hiệu nhạy hơn và nhanh hơn thì tốt, nhưng điều này không luôn luôn đúng và đây là một điều khó trong phân tích kỹ thuật: cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy. Các tín hiệu có độ nhạy cao thì càng bị sai lầm nhiều. Đối với đường trung bình, đường trung bình ngắn hơn sẽ nhạy hơn và tạo nhiều tín hiệu hơn. Đường EMA nhạy hơn đường SMA và sẽ cho nhiều tín hiệu hơn. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc tín hiệu sai tăng lên. Đường trung bình dài hơn sẽ chậm hơn và tạo ít tín hiệu hơn. Các tín hiệu này sẽ có độ tin cậy cao hơn, nhưng chúng cũng trễ hơn. Mỗi NĐT có kinh nghiệm sử dụng đường trung bình khác nhau và có cách cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy riêng.

Nhà đầu tư muốn tìm hiểu chuyên sâu hơn về  đầu tư chứng khoán, liên hệ với Duy Nghĩa theo địa chỉ bên dưới.

Duy Nghĩa - Chứng Khoán Online
Phạm Duy Nghĩa

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

090 411 6979 Mở tài khoản CK