DANH MỤC

Mobile / Fb / Zalo: 0931 114 089 / 090 411 6979

Cổ tức là gì? Các hình thức trả Cổ tức hiện nay

Lượt xem: 1526 - Ngày:
Chia sẻ

Nhiều nhà đầu tư thắc mắc cổ tức là gì? có bao nhiêu cách chia cổ tức? mỗi cách có ưu nhược điểm như thế nào? Duy Nghĩa xin chia sẻ kiến thức về cổ tức để giúp các bạn đưa ra quyết định giao dịch chính xác khi đầu tư theo trường phái hưởng cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.

1. Cổ tức là gì?

Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần. Bản chất cổ tức là cách doanh nghiệp phân phối lại lợi nhuận sau khi huy động được vốn đầu tư từ cổ đông.

Mục đích cơ bản của bất kỳ công việc kinh doanh nào là tạo ra lợi nhuận cho những chủ sở hữu của nó, và cổ tức là cách thức quan trọng nhất để việc đầu tư chứng khoán thực hiện được nhiệm vụ này. Khi công việc kinh doanh của công ty tạo ra lợi nhuận, một phần lợi nhuận được tái đầu tư vào việc kinh doanh và lập các quỹ dự phòng, gọi là lợi nhuận giữ lại, phần lợi nhuận còn lại được chi trả cho các cổ đông, gọi là cổ tức. Việc thanh toán cổ tức làm giảm lượng tiền lưu thông đối với công việc kinh doanh, nhưng việc chia lời cho các chủ sở hữu tạo lợi nhân cho các cổ đông.

Nhà đầu tư khi giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán quan tâm đến 2 vấn đề chính là: Cổ tức (Dividend) và Chênh lệch giá mua-bán (Capital Gain).

2. Các hình thức chi trả cổ tức.

Doanh nghiệp trả cổ tức cho nhà đầu tư thông qua ba hình thức:

  • Cổ tức bằng tiền mặt (Cash Dividend)
  • Mua lại cổ phiếu (Stock buyback – Share repurchases)
  • Cổ tức bằng cổ phiếu (Stock Divedend)

2.1 Cổ tức tiền mặt (Cash Dividend).

Cổ tức tiền mặt là việc doanh nghiệp trả cổ tức trực tiếp bằng tiền mặt. Hội đồng quản trị của doanh nghiệp, căn cứ trên kết quả hoạt động kinh doanh và các kế hoạch kinh doanh quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Tại thị trường Việt Nam, nhà đầu tư lưu ý khi doanh nghiệp công bố tỷ lệ chi trả cổ tức, thì tỷ lệ chi trả cổ tức này dựa trên mệnh giá cổ phiếu (một cổ phiếu có mệnh giá niêm yết theo quy định của luật là 10.000 đồng). Như vậy, dù tỷ lệ cổ tức chi trả rất cao, khi đọc báo hoặc theo dõi thông tin thị trường, các bạn có thể thấy tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt cực kỳ cao, có khi lên đến 50%, 60% hoặc 200% có nghĩa là nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu sẽ được chia thêm 20.000 đồng/cổ phiếu.

Một lưu ý khi xem xét yếu tố cổ tức tiền mặt là tỷ lệ chi trả cổ tức (payout ratio). Ví dụ: Tỷ lệ payout ratio là 16%, có nghĩa công ty làm ra lợi nhuận trên một cổ phiếu (EPS – Earning per share) là 100 đồng thì công ty sẽ chi trả 16 đồng cổ tức, 84 đồng còn lại công ty sẽ giữ lại và phân bổ vào phần lợi nhuận còn lại chưa phân phối (retained earnings). Sau đó, phần lợi nhuận chưa phân phối sẽ được phân bổ vào hoạt động kinh doanh và lập các quỹ dự phòng.

Ví dụ: Ngày 06/07/2017, CTCP Tập đoàn KIDO (HOSE: KDC) đã công bố Nghị quyết HĐQT về việc chi trả cổ tức năm 2016 với nội dung như chính sau:

  • Tỷ lệ chi trả: 16% (tương đương 1.600 đồng/1 cổ phiếu)
  • Ngày đăng ký cuối cùng: 26/07/2017
  • Thời gian chi trả bắt đầu từ ngày 07/08/2017

Ảnh nghị quyết của HĐQT Công ty CP tập đoàn KIDO 

Ưu điểm:

  • Nhà đầu tư chắc chắn thu được lợi nhuận từ cổ phiếu. Đây cũng là điều rất nhiều nhà đầu tư mong muốn khi đầu tư cổ phiếu của một doanh nghiệp bất kỳ.
  • Nhà đầu tư thường xem xét đến chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của công ty theo thời gian, chi trả cổ tức có ổn định và tăng trưởng qua các năm hay không để đánh giá độ hấp dẫn của cổ phiếu khi đầu tư. Những doanh nghiệp chi trả cổ tức đều đặn hàng năm luôn thu hút được nhà đầu tư.

Nhược điểm:

  • Nhà đầu tư chịu thuế 2 lần. Lần thứ 1 là khi công ty có lợi nhuận sau thuế (thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp – ở Việt Nam hiện nay là 25%), và thuế suất đánh vào cổ tức cho thu nhập cá nhân nhà đầu tư (5% cho Việt Nam).
  • Chi trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ làm giảm phần lợi nhuận được giữ lại sử dụng trong đầu tư kinh doanh và thành lập quỹ dự phòng cho các dự án mới. Ở góc độ tâm lý nhà đầu tư nếu chính sách cổ tức quá ổn định và công ty không đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị qua các năm sẽ làm giảm khả năng hoạt động kinh doanh, điều này làm giảm sức thu hút đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp.

2.2 Mua lại cổ phiếu (Stock buyback – Share repurchases).

Mua lại cổ phiếu là hình thức trả cổ tức của doanh nghiệp, thay vì trả cổ tức bằng tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ trả cổ tức cho nhà đầu tư bằng cách mua lại cổ phiếu trên thị trường. Hình thức chi trả cổ tức ít được công ty sử dụng, thường diễn ra lúc thị trường có dấu hiệu suy yếu, giá cổ phiếu tụt giảm.

Ưu điểm:

  • Việc mua lại cổ phiếu thường được công ty tiến hành cao hơn thị giá, do đó giúp nhà đầu tư có lợi khi bán lại cổ phiếu để nhận “cổ tức” từ công ty.
  • Hỗ trợ tăng giá cổ phiếu công ty trong ngắn hạn. Việc mua lại cổ phiếu ở giá cao hơn thị giá như một tín hiệu phát ra từ công ty muốn ám chỉ cho thị trường là giá cổ phiếu đang bị giao dịch thấp hơn giá trị thực mà công ty mong đợi. Số lượng cổ phiếu mua lại làm giảm số cổ phiếu lưu hành trên thị trường (Outstanding Shares), làm EPS tăng lên. Nếu chỉ số P/E trước khi công ty mua lại cổ phiếu không đổi, do EPS tăng do đó thị giá cổ phiếu cũng tăng theo.

Nhược điểm:

  • Nhược điểm đầu tiên là nhà đầu tư có thể chịu thuế đầu tư vốn (capital gain) khi bán lại cổ phiếu cho doanh nghiệp. Thuế suất đánh vào các khoản lợi nhuận chênh lệch đầu tư vốn hiện nay ở Việt Nam là 20%.
  • Giá cổ phiếu chỉ tăng trong ngắn hạn, nếu công ty không chứng minh năng lực tài chính vững vàng, dòng tiền kinh doanh không tiếp tục sinh ra thì thị trường sẽ hành động ngay lập tức để phản ánh đúng giá trị cổ phiếu được giao dịch. Ngoài ra, một vấn đề lưu ý khác là cổ đông có thể đang bị ban
    lãnh đạo, điều hành của công ty “qua mắt” nếu việc công bố thông tin mua lại cổ phiếu có thể phục vụ mục đích trục lợi cho họ (ví dụ: công bố mua giá cao, sau đó bán cổ phiếu mình đang sở hữu lại cho doanh nghiệp, rồi tuyên bố từ nhiệm).

2.3 Cổ tức bằng cổ phiếu (Stock Divedend).

Cổ tức bằng cổ phiếu là việc công ty thay vì trả cổ tức tiền mặt, mua lại cổ phiếu thì sẽ phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông. Việc phát hành cổ tức bằng cổ phiếu không làm thay đổi vốn chủ sở hữu. (Shareholder’s equity), và tỷ lệ nắm giữ của mỗi cổ đông trong doanh nghiệp không đổi (do cùng nhận một tỷ lệ tương ứng cho phần tăng thêm).

Doanh nghiệp có thể trả cổ tức bằng cổ phiếu từ các nguồn sau:

  • Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (Retained Earnings).
  • Các quỹ dự phòng doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển (investment & development fund).
  • Thặng dư vốn cổ phần (share premiums).

Ví dụ: Ngày 17/3/2017, Công ty CP tập đoàn Hòa Phát quyết định chia cổ tức bằng cổ phiếu với nội dung như sau:

  • Ngày đăng ký cuối cùng: 31/03/2017
  • Tỷ lệ thực hiện: 50% tương đương tỷ lệ 10:5 (Người sở hữu 10 cổ phiếu được nhận 05 cổ phiếu mới)
  • Ngày đăng ký cuối cùng: 31/03/2017

Ảnh Thông báo nhận cổ tức của Công ty CP tập đoàn Hòa Phát năm 2016

Ưu điểm:

  • Nhà đầu tư tránh được thuế đánh vào cổ tức tiền mặt, khi nhận thêm cổ tức bằng cổ phiếu. Đối với công ty có hoạt động kinh doanh tốt, tâm lý nhà đầu tư luôn muốn nhận cổ tức bằng cổ phiếu hơn bằng tiền mặt.
  • Công ty có thể tránh việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt khi đang cần dùng số tiền đó để đầu tư vốn lưu động hoặc tài sản cổ định (Nhà máy, thiết bị, v.v…). Bên cạnh đó, việc trả cổ tức bằng cổ phiếu còn giúp tăng thanh khoản giao dịch cổ phiếu, khi số lượng cổ phiếu phát hành thêm tăng lên, và giá được điều chỉnh giảm tương ứng. Do đó, cơ hội cổ phiếu đến với nhiều nhà đầu tư hơn, và cơ hội tăng giá cho chính bản thân cổ phiếu cũng xảy ra.

Nhược điểm: 

  • Do số cổ phiếu lưu hành tăng lên, vốn hóa không đổi nên thị giá một cổ phiếu sau khi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ giảm.
  • Bên cạnh đó, nếu công ty sử dụng tiền thay vì trả cổ tức tiền mặt vào các dự án không tạo thêm khả năng lợi nhuận cho nhà đầu tư, giá cổ phiếu có thể giảm, khiến nhà đầu tư mất đi cơ hội nếu nhận tiền mặt cổ tức thay vì cổ tức bằng cổ phiếu.

Lưu ý: Phân biệt cổ tức bằng cổ phiếu với chia tách cổ phiếu và cổ phiếu thưởng:

Về nguyên tắc, dù công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu (Stock Dividend) hay chia tách cổ phiếu (Stock Split), giá trị vốn chủ sở hữu không đổi, tuy nhiên sự khác nhau chủ yếu là:

  • Trả cổ tức bằng cổ phiếu có sự dịch chuyển qua lại giữa các tài khoản con trong vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Ví dụ: quỹ đầu tư phát triển tài trợ cho nguồn trả cổ tức bằng cổ phiếu, thì quỹ này sẽ giảm một phần đúng bằng phần tăng thêm ở vốn điều lệ công ty.
  • Chia tách cổ phiếu: không làm ảnh hưởng đến bất kỳ khoản nào trên vốn chủ sở hữu.

Một công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 2:1 hay tách cổ phiếu theo tỷ lệ 2:1 thì số cổ phiếu mới đưa vào lưu hành đều bằng nhau (trước kia nhà đầu tư có 2 cổ phiếu thì nay sẽ có 3 cổ phiếu), nhưng các thành phần tài khoản trong vốn chủ sở hữu sẽ thay đổi, trong trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu, còn trường hợp chia tách cổ phiếu thì không.

Cổ phiếu thưởng (stock compensation): nhiều nhà đầu tư thường hiểu lầm nhỏ khi sử dụng cổ phiếu thưởng tương đương như cổ tức bằng cổ phiếu. Trong cổ phiếu thưởng, có hai loại:

  • Cổ phiếu thưởng dành cho nhân viên, như các chương trình ESOP mua cổ phiếu ưu đãi dành cho nhân viên, ví dụ: mua ở mệnh giá so với mức giá cao của thị giá. Do đó, công ty không tài trợ cho cổ phiếu thưởng dạng này (ngoại trừ bán ưu đãi thêm cổ phần mới).
  • Cổ phiếu thưởng dành cho cổ đông hiện hữu, đây chính là cổ tức bằng cổ phiếu mà công ty dành cho cổ đông. Công ty tài trợ bằng nguồn lực công ty, cổ đông không phải bỏ thêm tiền mà vẫn tăng số lượng cổ phiếu nắm giữ trong công ty (nhưng tỷ lệ sở hữu không đổi).

—————————
Phạm Duy Nghĩa– Chuyên viên Phân tích và Đầu tư Chứng khoán Cao cấp
Điện thoại / Zalo / Viber: 090 411 6979
Fanpage: Chungkhoanonline.vn
Email: xuannv.invest@gmail.com

Duy Nghĩa - Chứng Khoán Online
Phạm Duy Nghĩa

BÌNH LUẬN()

CÁC TIN LIÊN QUAN

090 411 6979 Mở tài khoản CK